Tư vấn các hình thức sở hữu tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân Sự

    Quyền sở hữu tài sản là một trong các quyền vô cùng quan trọng của thể nhân, pháp nhân do pháp luật quy định. Bộ luật Dân sự qua các lần sửa đổi, bổ sung ngày càng quy định cụ thể hoá hơn quyền sở hữu tài sản để làm căn cứ pháp lý giải quyết khi có phát sinh tranh chấp.
    Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hình thức sở hữu được phân loại như sau:
    Sở hữu nhà nước:
    Tài sản thuộc sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.
    Sở hữu tập thể:
    Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.
    Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp do sản xuất, kinh doanh, được nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tập thể đó.
    Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể được giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của các thành viên. Thành viên của tập thể có quyền được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể.
    Sở hữu tư nhân:
    Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình.
    Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.
    Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân. Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
    Cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật.
    Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
    Sở hữu chung:
    Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.
    Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
    Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.
    Quyền sở hữu chung được xác lập theo thoả thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán.
    Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
    Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia, các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
    Sỡ hữu chung hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. Tài sản được hình thành từ nguồn vốn góp của các chủ sở hữu, lợi nhuận hợp pháp thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản chung thuộc sở hữu chung hỗn hợp. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp phải tuân theo quy định của pháp luật có liên quan đến việc góp vốn, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý, điều hành, trách nhiệm về tài sản và phân chia lợi nhuận.
    Sở hữu chung của vợ chồng:
    Sỡ hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
    Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
    Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.
    Ngoài ra, căn cứ vào các tiêu chí phân loại khác nhau mà pháp luật còn có thêm những quy định khác về hình thức sở hữu tài sản, như quyền sở hữu tài sản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
    Việc xác định hình thức sở hữu tài sản có ý nghĩa rất quan trọng khi quyết định bất kỳ vấn đề gì có liên quan đến việc xử lý tài sản, đặc biệt là trong việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến tài sản chung. Nếu quý vị còn gặp vướng mắc trong quá trình bổ túc kiến thức pháp luật cho mình, điều nên làm là tìm luật sư giỏi tư vấn các hình thức sở hữu tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự để làm cơ sở giải quyết quan hệ pháp luật có tranh chấp liên quan đến tài sản để quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ một cách tốt nhất.

    Luật sư Trần Đăng Minh.