Luật sư giỏi tư vấn thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ

    Khởi kiện là thuật ngữ pháp lý nói chung để diễn đạt sự việc một bên yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án để buộc bên kia phải đáp ứng một hoặc một số yêu cầu cụ thể căn cứ theo quy định của pháp luật. Quyền khởi kiện vụ án có nội dung tương đối rộng, bao gồm khởi kiện vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính… Tùy thuộc vào quan hệ pháp luật cần giải quyết, chủ thể khởi kiện và đối tượng bị kiện để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quy định pháp luật được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án.
    Việc đầu tiên cần phải làm khi tiến hành thủ tục khởi kiện vụ án dân sự là phải xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp để xác định thẩm quyền của Tòa án, yêu cầu cụ thể của người khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án vì đây là quyền của người khởi kiện và Tòa án chỉ xem xét giải quyết những vấn đề người khởi kiện có yêu cầu.
    Căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ được quy định như sau:
    1/. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
        a). Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
        b). Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động quy định tại các Điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
        c). Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.
    2/. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
        a). Toà án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
        b). Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
        c). Toà án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ bỏ tuyên bố mất tích hoặc là đã chết;
        d). Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án, quyết định của Toà án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài.
        đ). Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
        e). Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhân và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài;
        g). Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;
        h). Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
        i). Toà án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn;
        k). Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau ly hôn;
        l). Toà án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
        m). Toà án nơi phòng công chứng, Văn phòng công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;
        n). Toà án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật;
        o). Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
    Ngoài những quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ như trên. Người khởi kiện có thể lựa chọn Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự như sau:
        1/. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
        a). Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết;
        b). Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
        c). Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
        d). Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
        đ). Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
        e). Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
        g). Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
        h). Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
        i). Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
    Việc nắm rõ các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ như trên, cũng như quyền được lựa chọn Toà án giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cho người khởi kiện cân nhắc các điều kiện để khởi kiện sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tế của bản thân, đặc biệt là trong các trường hợp tranh chấp phát sinh mà nguyên đơn và bị đơn cư trú ở cách xa nhau hàng nghìn cây số, nếu nguyên đơn vì không am hiểu quy định của pháp luật mà khởi kiện vụ án nơi bị đơn cư trú hoặc do thấy việc khởi kiện gặp khó khăn do đường xá xa xôi tốn kém thời gian, tiền bạc và công sức nên từ bỏ quyền khởi kiện thì thật đáng tiếc.

    Luật sư Trần Đăng Minh.