Luật sư giỏi tư vấn luật lập di chúc

    Luật sư giỏi tư vấn luật lập di chúc – Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
    Theo đó, chỉ có cá nhân mới có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết, quyền lập di chúc không được pháp luật quy định đối với pháp nhân.
    Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ hành vi của mình. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
    Khi tiến hành lập di chúc, người lập di chúc có các quyền sau đây:
        1/. Chỉ định người thừa kế, truất quyền của hưởng di sản của người thừa kế;
        2/. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
        3/. Dành một phần trong khối di sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
        4/. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
        5/. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản;

    Việc lập di chúc phải tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức, cụ thể là Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.
    Trong đó, di chúc bằng văn bản có các hình thức sau:
        1/. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
        2/. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
        3/. Di chúc bằng văn bản có di chúc;
        4/. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

    Di chúc miệng:
        1/. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
        2/. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
    Khi lập di chúc, cần chú ý quy định của pháp luật để đảm bảo hiệu lực của di chúc được quy định tại Điều 652 của Bộ luật dân sự như sau:
        1/. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
        a/. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
        b/. Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái  quy định của pháp luật.
        2/. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
        3/. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
        4/. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
        5/. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

    Sau khi lập di chúc xong, người lập di chúc hoàn toàn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau, nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.
    Trong thực tiễn hành nghề, chúng tôi gặp rất nhiều trường hợp hai vợ chồng cùng mong muốn lập di chúc định đoạt tài sản cho con, vấn đề này được giải quyết theo quy định về di chúc chung của vợ chồng tại Bộ luật Dân sự. Theo đó, vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, vợ chồng cũng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào. Lưu ý là khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải có được sự đồng ý của người kia. Nếu vợ hoặc chồng đã chết thì người còn lại chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực pháp luật vào thời điểm người sau cùng chết hoặc khi cả hai vợ chồng cùng chết.
    Trên đây là những quy định pháp luật mang tính cơ bản về lập di chúc, hiệu lực pháp luật của di chúc để xem xét vấn đề thừa kế theo di chúc được quy định tại Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trong quá trình xác lập di chúc hoặc phân chia di sản thừa kế theo di chúc thì chúng ta cần phải tìm hiểu thêm các quy định về điều kiện, thủ tục lập di chúc để đảm bảo tính hợp pháp của di chúc, các trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di tặng, di sản dùng vào việc thờ cúng, thực hiện nghĩa vụ thay cho người để lại di chúc, công bố di chúc… được quy định tại Bộ luật dân sự.
    Trường hợp quý vị muốn lập di chúc hoặc có thắc mắc về việc thừa kế theo nội dung di chúc mà không thể tự mình xử lý được vấn đề, giải pháp an toàn và hiệu quả nhất là nhờ luật sư giỏi tư vấn  di chúc để được tư vấn thủ tục lập di chúc đảm bảo hiệu lực pháp luật của di chúc tránh những tranh chấp phát sinh về sau.

    Luật sư Trần Đăng Minh.