Luật sư giỏi tư vấn luật hôn nhân và gia đình – Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

    Tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu theo cách thông thường nhất là các tài sản được hình thành trong quá trình nam nữ chung sống như vợ chồng được xác lập theo hôn nhân thực tế hoặc tài sản được hình thành kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
    Đối với tài sản phải đăng ký theo quy định của pháp luật dân sự, bắt buộc các bên phải tuân thủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 12 của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 như sau:
    1/. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.
    2/. Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.
    3/. Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên của cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thoả thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Toà án về việc chia tài sản chung.
    Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng nên tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được bảo vệ theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng để các bên tự bảo vệ quyền lợi của mình khi chấm dứt chế độ hôn nhân, theo đó vấn đề tài sản của mỗi bên có thể được giải quyết bằng thoả thuận để rút ngắn về thời gian và chi phí thực hiện nếu có yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
    Thông thường, nếu các bên đương sự có yêu cầu Toà án giải quyết phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì phải chịu án phí có giá ngạch, và sau khi có bản án nếu không tự nguyện thi hành phải yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự thụ lý thi hành thì lại phải tốn thêm khoản phí thi hành án.
    Việc hiểu biết là tuân thủ đúng các quy định của pháp luật có liên quan đến tài sản chung của
    Đứng trước thực tế vô cùng phức tạp và rắc rối khi lựa chọn quy phạm pháp luật đúng đắn nhất để giải quyết các tranh chấp dạng này, đặc biệt là các tài sản có nguồn gốc hình thành từ lâu đời mà không có văn tự xác lập quyền sở hữu một cách minh bạch theo đúng quy định của pháp luật, hoặc các loại tài sản khác chỉ mới xuất hiện khi đất nước ta hội nhập nền kinh tế thị trường của thế giới như công ty, cổ phần, cổ phiếu, giấy tờ có giá khác… mà pháp luật trước đây còn bỏ ngỏ. Khiến cho việc giải quyết tranh chấp vô cùng phức tạp, kéo dài thời gian dẫn đến thiệt hại vô cùng to lớn về thời gian và tiền bạc của các bên.
    Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, các nhà lập pháp đã ban hành một quy định mới về thoả thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, hay còn được gọi là “Hợp đồng hôn nhân” ở các nước phát triển.
    Điều 47 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về thoả thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
    “… Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”.
    Khi xác lập thoả thuận chế độ tài sản của vợ chồng phải đảm bảo các nội dung như sau:
    1/. Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng;
    2/. Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình;
    3/. Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
    4/. Các nội dung khác có liên quan.
    Khi thực hiện thoả thuận chế độ về tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thoả thuận về chế độ tài sản. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thoả thuận phải được công chứng hoặc chứng thực như hình thức văn bản thoả thuận đã lập trước đó.
    Đây là một quy định hoàn toàn mới có liên quan đến chế độ tài sản chung của vợ chồng lần đầu tiên được pháp luật thừa nhận ở nước ta, làm căn cứ để xác định và giải quyết mọi tranh chấp có liên quan đến tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng.
    Trong quá trình hành nghề luật sư, chúng tôi đã tiếp nhận không ít trường hợp thân chủ yêu cầu tư vấn pháp luật về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, khi vận dụng quy định mới này, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng chế định pháp lý vô cùng mới mẻ này, như sau:
    Thứ nhất: Theo quy định tại Điều 47 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về thời điểm xác lập thoả thuận chế độ tài sản chung của vợ chồng bắt buộc phải được lập trước khi kết hôn, nghĩa là thời điểm xác lập văn bản và yêu cầu công chứng hoặc chứng thực văn bản thoả thuận chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên đương sự chưa phải là vợ chồng theo luật định.
    Vậy, căn cứ vào đâu để cơ quan có thẩm quyền tiến hành việc công chứng hoặc chứng thực giao kết này? Và, nếu sau khi xác lập giao kết này hai người không đến được với nhau mà một trong hai bên đăng ký kết hôn với người khác, sau đó ly hôn rồi mới kết hôn với người đã ký kết thoả thuận thì liệu thoả thuận này có còn hiệu lực hay không? Những vấn đề này tuy hạn hữu nhưng hoàn toàn có khả năng xảy ra trên thực tế, do còn quá mới mẻ nên pháp luật cũng chưa hướng dẫn cụ thể nên khi tiến hành giao kết thoả thuận về chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân, các bên phải hết sức thận trọng khi tiến hành giao dịch.
    Giải pháp tạm thời đưa ra là, khi tiến hành xác lập thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, các bên quy định rõ các trường hợp thoả thuận đương nhiên chấm dứt hiệu lực hoặc thời hạn có hiệu lực của thoả thuận để phòng tránh mọi rắc rối về sau.
    Một vấn đề nữa cần phải được lưu ý, đó là đối với trường hợp vợ chồng đã đăng ký kết hôn rồi thì pháp luật không cho phép lập văn bản thoả thuận chế độ tài sản của vợ chồng, việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được áp dụng các quy định pháp luật thông thường trước đây.
    Thứ hai: Theo truyền thống tốt đẹp của người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, khi người nam và người nữ thành vợ thành chồng thì đồng nghĩa với việc hai người trở thành một, không có khái niệm “riêng” trong cuộc sống hôn nhân, kể cả tài sản là một vấn đề hết sức nhạy cảm. Vậy nên khi không có được sự tự nguyện đồng thuận từ hai phía, việc quá rạch ròi trong chế định tài sản thông qua thoả thuận chế độ tài sản chung của vợ chồng như trên rất dễ dẫn tới sự tổn thương của một trong hai bên khiến cho cuộc sống hôn nhân sau này luôn tồn tại khoảng cách, đôi khi dẫn đến kết cục không ai mong muốn là ly hôn. Đây cũng chính là mặt trái của thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng mà các bên cần chú ý khi thực hiện.
    Mặc dù có thể gặp phải những vấn đề nhất định khi thực hiện thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, nhưng chúng ta cũng nên nhận thức rõ và nhìn nhận mặt tích cực của thoả thuận này đời sống hôn nhân ở giai đoạn hội nhập mạnh mẽ hiện tại, đó là sự minh bạch, rõ ràng đối với các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân để làm căn cứ giải quyết nếu có tranh chấp. Chế định hợp đồng hôn nhân tuy còn mới mẽ và xa lạ ở nước ta nhưng đã rất phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Hong Kong, Australia, Anh…
    Nếu trong quá trình xác lập thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà quý khách hàng có những vướng mắc cần giải đáp, xin hãy liên hệ Văn phòng luật sư Thiên Định để được trợ giúp pháp lý tận tâm và hiệu quả.

    Luật sư Trần Đăng Minh.